Lý thuyết quản trị theo tâm lý xã hội của Elton Mayo

Lý thuyết quản trị theo tâm lý xã hội của Elton Mayo

Tiểu sử của Elton Mayo

MAYO, George ELTON (1880-1949), nhà lý luận xã hội và tâm lý học công nghiệp, sinh ngày 26 tháng 12 năm 1880 tại Adelaide, Úc, con trai cả của George Gibbes Mayo, người thảo văn thư và sau đó là kỹ sư dân sự. Học tại trường Queen’s và Trường cao đẳng St Peter, ông đã bị mất lãi suất trong y học tại Đại học Adelaide và sau 1901, tại các trường y khoa ở Edinburgh và London. Năm 1903 ông tới London, viết bài cho tạp chí và giảng dạy tiếng Anh tại trường Cao đẳng. Ông trở lại Adelaide năm 1905 đến quan hệ đối tác trong các công ty in ấn của JH Sherring & Co, nhưng năm 1907 ông đã đi lại cho các trường đại học để nghiên cứu triết học và tâm lý học dưới (Sir) William Mitchell. Năm 1911 ông trở thành giảng viên trong triết lý nền tảng tinh thần và đạo đức tại Đại học mới của bang Queensland và trong 1919-1923 được tổ chức chủ tịch đầu tiên của triết học ở đó. Vào ngày 18 tháng tư năm 1913 ở Brisbane, ông đã có vợ Dorothea McConnel.

Ở Brisbane Elton mayo là một nhân vật công cộng, giảng dạy cho Hiệp hội Người lao động giáo dục và phục vụ trên chiến tranh ủy ban của trường. Chịu ảnh hưởng của Freud, Jung và Pierre Janet, ông nghiên cứu tính chất của suy nhược thần kinh và với một bác sĩ Brisbane, Tiến sĩ TH Mathewson, đi tiên phong trong điều trị psychoanalytic của shell-shock. Cuốn sách đầu tiên của ông, Dân chủ và Tự do (Melbourne, 1919), nêu cơ sở xã hội của mình nghĩ sau này phát triển trong nhiều bài báo và trong các tác phẩm lớn của ông, Các vấn đề con người của một Văn minh công nghiệp (New York, 1933) và Các vấn đề xã hội của một Văn minh công nghiệp (London, 1945). Quan sát mức độ lo ngại xung đột công nghiệp và các cuộc xung đột chính trị tại Úc, Tháng Năm xây dựng một tương tự giữa thần kinh chiến tranh và những nguyên nhân của tình trạng bất ổn tâm lý công nghiệp. Vẽ về nhân chủng học xã hội, ông lập luận rằng tinh thần của người lao động, hoặc sức khỏe tâm thần, phụ thuộc vào nhận thức của ông về các chức năng xã hội của công việc của mình. Ông thấy giải pháp cho tình trạng bất ổn công nghiệp trong nghiên cứu xã hội học và quản lý công nghiệp hơn là trong chính trị cấp tiến.

Tháng 5/1922, ông đến Hoa Kỳ, nghiên cứu tại Đại học Pennsylvania’s Wharton School. Để điều tra doanh thu cao, lao động tại một nhà máy dệt. Công việc này đã thu hút sự chú ý của Trường Quản trị Kinh doanh Harvard, nơi ông được bổ nhiệm làm phó giáo sư năm 1926 và giáo sư nghiên cứu công nghiệp vào năm 1929. Có ông tham gia và điều tra được thiết kế vào yếu tố cá nhân và xã hội xác định sản lượng công việc tại Công ty Điện Tây ‘s Chicago cây trồng, các thí nghiệm Hawthorne nổi tiếng đã được nghiên cứu pathbreaking trong nghiên cứu xã hội hiện đại.

Năm 1947, ông nghỉ hưu từ Harvard đến Anh, nơi ông đã qua đời ở Guildford, Surrey, vào ngày 01 Tháng 9 năm 1949, do hút thuốc quá mức, ông đã bị tăng huyết áp mãn tính. Các Elton Tháng Năm School of Management ở Adelaide đã được phát triển như một tưởng nhớ đến ông.

Cuộc thử nghiệm ở Hawthorne

Tiến hành thử nghiệm Hawthorne Illumination được thực hiện vào tháng 11/1924 tại ba bộ phận của xí nghiệp Hawthorne ở Chicago với sự chỉ đạo của các kỹ sư.Người ta chi các nhân viên thành hai nhóm: nhóm thử nghiệm (làm việc trong những sự thay đổi có chú ý về điều kiện ánh sáng), và nhóm kiểm chứng (làm việc trong điều kiện ánh sáng được duy trì cố định trong suốt thử nghiệm).

Khi điều kiện ánh sáng ở nhóm thử nghiệm được cải thiện, hiệu qủa làm việc của nhóm này tăng lên như mong đợi. Dù vậy thì các kỹ sư cũng đã thực sự bối rối vì năng suất làm việc của nhóm thử nghiệm đã tăng lên tương tự khi giảm cường độ ánh sang đến mức thấp nhất có thể. Sự khó giải thích tăng lên khi năng suất của nhóm kiểm chứng cũng tăng lên mặc dù điều kiện ánh sang không thay đổi. Công ty điện tử Western đã phải nhờ đến giáo sư Elton Mayo của đại học Harvard để tìm ra bí ẩn của những kết quả lạ thường này.

Elton Mayo với cuộc thử nghiệm ở Hawthorne

Mayo và những đồng nghiệp tại Harvard là Fritz Roethlisberger và William Dickson đã thực hiện một thí nghiệm mới. Họ đã đưa hai nhóm công nhân nữ (mỗi nhóm 6 người) vào 2 phòng làm việc khác nhau. Nhóm thí nghiệm làm việc trong phòng có điều kiện thay đổi (nhiệt độ, giờ giải lao, uống cà phê) nhưng kết quả là sản lượng của hai nhóm đều tăng.

Để đi đến kết luận, ông thử nghiệm với 20.000 công nhân và kết quả vẫn không đổi.

Mayo kết luận rằng: “Sự gia tăng năng suất không lệ thuộc vào các nguyên nhân vật chất mà do một tập hợp những phản ứng tâm lý rất phức tạp”. Cả hai nhóm nhân viên đều được quan tâm một cách tận tình, sự cảm thông động viên đã thúc đẩy họ làm việc để đạt hiệu quả cao nhất. Điều đó đã dẫn Mayo đến khám phá quan trọng đầu tiên: “Khi công nhân được chú ý đặc biệt thì năng suất tăng lên hầu như bất kể điều kiện làm việc có thay đổi hay không!”. Hiện tượng này được gọi là Tác động Hawthorne.

Mayo đã tiến hành phỏng vấn các nhân viên. Kết quả đã mang lại một khám phá đặc biệt có ý nghĩa: những nhóm làm việc không chính thức, môi trường xã hội của nhân viên có ảnh hưởng to lớn đến hiệu năng làm việc. Rất nhiều nhân viên của Western Electric cho rằng cuộc sống của họ bên ngoài và trong xí nghiệp của họ không có ý nghĩa và đáng chán. Giữa những đồng nghiệp có sự chia rẽ, bè phái, điều này tác động lớn đến đời sống văn phòng của họ. Do đó, áp lực từ những đồng nghiệp chứ không phải là từ các yêu cầu của cấp trên đã ảnh hưởng lớn đến năng suất làm việc của công nhân.

Kết luận của Elton Mayo:

Qua cuộc thử nghiệm ở Hawthorne Mayo đã rút ra được những kết luật sau:

Các đơn vị kinh doanh là tổ chức xã hội, bên cạnh tính kinh tế và kỹ thuật đã nhận thấy.

Con người không chỉ có thể động viên bằng các yếu tố vật chất, mà cả yếu tố tâm lí và xã hội.

Các nhóm và tổ chức phi chính thức trong xí nghiệp tác động nhiều đến thái độ và kết quả lao động của công nhân.

Sự lãnh đạo của nhà quản trị không chỉ đơn thuần dựa vào chức danh chính thức trong bộ máy tổ chức, mà còn phải dựa nhiều vào yếu tố tâm lí, xã hội.

Sự thỏa mãn tinh thần có liên quan chặt chẽ với năng suất và kết quả lao động.

Công nhân có những nhu cầu về tâm lí và xã hội cần được thỏa mãn.

Tài năng quản trị đòi hỏi cả yếu tố kỹ thuật lẫn yếu tố xã hội.

Khi công trình nghiên cứu hoàn tất năm 1932, ông kết luận rằng phương pháp làm việc có tính cách khoa học của ngành quản trị cổ điển với Frederick W. Taylor là đại diện, mang lại hiệu năng quản lý với kết quả tốt, nhưng không hoàn chỉnh. Lý do là một con người bằng xương bằng thịt với tất cả sinh khí và cảm xúc, không thể được đối xử như máy móc vô tri giác, và lại càng không nên áp đặt họ bằng một hệ thống mà không quan tâm tới nhu cầu của họ. Mayo giới thiệu một phương pháp mới gọi là Phương Pháp Quản Trị theo tâm lý xã hội (trường phái hành vi trong quản lý).

Phương Pháp Quản Trị theo tâm lý xã hội

Phương pháp này nhấn mạnh đến sự thoả mãn nhu cầu của con người, không phải là thứ nhu cầu vật chất, nhưng là tâm lý của họ trong một tổ chức. Tư tưởng chủ chốt của Mayo được tóm lược trong những điểm chính sau đây:

Tổ chức phải tạo bầu khí để nhân viên cảm thấy thoải mái và thân thiện khi làm việc.

Tạo cơ hội để nhân viên nhận ra chân giá trị của chính mình trong tổ chức.

Tạo được tinh thần đội ngũ trong các nhóm.

Nhân viên cần được quan tâm và tôn trọng.

Mayo đề nghị giới quản trị nên thay đổi quan niệm về nhân viên qua cách quan sát và đối xử để đạt hiệu năng và duy trì hiệu năng lâu dài.

Nhờ công trình nghiên cứu mang tính đột phá của Mayo, giờ đây chúng ta hiểu rằng nơi làm việc là một hệ thống xã hội phức hợp mà tại đó, sự thỏa mãn và tận tâm của nhân viên ảnh hưởng đến hiệu suất làm việc. Các phát hiện của ông đã khuấy động làn sóng nghiên cứu mới và cách tư duy mới về những động lực thúc đẩy nhân viên nơi làm việc.