Thiết chế xã hội là gì? Nguyên nhân, cơ cấu, chức năng

Thiết chế xã hội là gì? Nguyên nhân, cơ cấu, chức năng

Thiết chế xã hội là gì? Nguyên nhân tạo ra thiết chế xã hội. Cơ cấu, phân loại và chức năng của thiết chế xã hội.

Khái niệm thiết chế xã hội

Thiết chế xã hội là toàn bộ những hành vi, tư tưởng và niềm tin đã trở thành chuẩn mực, khuôn khổ, giá trị xã hội được thể hiện trong phong tục tập quán truyền thống, trong lệ hay trong luật, đòi hỏi cá nhân và nhóm xã hội phải tôn  trọng và tuân theo thì mới bảo đảm được sự liên kết và hoạt động của các cá nhân và nhóm, mới hình thành nên tổ chức xã hội.

Về mặt tổ chức, thiết chế xã hội là hệ thống các cơ quan quyền lực, các đại diện cho cộng đồng, đảm bảo những hoạt động đáp ứng những nhu cầu khác nhau của cộng đồng và cá nhân. Ngoài việc giám sát của các hệ thống tổ chức, còn có hệ thống giám sát không mang những hình thức có tổ chức. Đó là phong tục, tập  quán, dư luận, luôn luôn đánh giá và điều chỉnh hành vi của các thành viên trong cộng đồng xã hội.

Nguyên nhân tạo ra thiết chế xã hội

Các nhà Xã hội học đều cho rằng thiết chế xã hội nảy sinh, tồn tại và phát triển là do nó đáp ứng nhu cầu xã hội. Các nhu cầu xã hội cơ bản như sau:

  • Giao tiếp giữa các thành viên;
  • Sản xuất và sản phẩm dịch vụ;
  • Phân phối các sản phẩm và dịch vụ hàng hóa;
  • Bảo vệ các thành viên khỏi tác động của thiên nhiên, bệnh tật và nguy hiểm khác;
  • Thay thế các thành viên và thay thế văn hóa thông qua quá trình xã hội hóa;
  • Kiểm soát hành vi của các thành viên.

Cơ cấu của thiết chế xã hội

Thiết chế xã hội có hai thành tố chủ yếu:

  • Cơ cấu bên trong: là nội dung hoạt động của thiết chế, bao gồm tổng thể các chuẩn mực, các khuôn khổ, các giá trị được xác định theo nhu cầu, lợi ích và mục tiêu của tập hợp xã hội.
  • Cơ cấu biểu hiện: là những thực thể – chủ thể xã hội, những điều kiện vật chất tương ứng với cơ cấu bên trong để hiện thực hóa nội dung, chức năng của thiết chế xã hội.

Phân loại thiết chế xã hội

Căn cứ để phân loại: tính phổ quát của thiết chế; sự cần thiết của thiết chế; tầm quan trọng của thiết chế.

Căn cứ vào ba đặc điểm trên, các nhà Xã hội học chia các thiết chế xã hội thành hai loại: thiết chế chủ yếu và thiết chế phụ thuộc.

a. Thiết chế chủ yếu: là những thiết chế cần thiết nhất cho xã hội và được coi là quan trọng nhất cho lợi ích cá nhân và xã hội, bao gồm các thiết chế:

Các loại thiết chế xã hội cơ bản:

  • Thiết chế gia đình: điều hòa hành vi, tình cảm, tình dục và nuôi dạy con cái.
  • Thiết chế giáo dục: truyền thụ những tri thức khoa học nói chung.
  • Thiết chế kinh tế: đảm bảo quá trình sản xuất, phân phối lợi ích và các dịch vụ.
  • Thiết chế chính trị: bảo đảm việc thiết lập và giữ vững quyền lực chính trị.
  • Thiết chế pháp luật: đảm bảo trật tự, công bằng xã hội và kiểm soát xã hội.
  • Thiết chế tôn giáo: thoả mãn nhu cầu tâm

b. Thiết chế phụ thuộc là những thiết chế nhỏ bé và khác biệt nhau, nằm trong thiết chế chủ yếu, bao gồm:

    • Thiết chế văn hóa, nghệ thuật;
    • Thiết chế khoa học;
    • Thiết chế đạo đức;
    • Thiết chế phong tục tập quán truyền thống;…

Các loại thiết chế xã hội tuy khác nhau nhưng đều có mối quan hệ chặt chẽ với nhau.

Chức năng của thiết chế xã hội

Sự tồn tại của mọi xã hội, tính ổn định và phát triển của nó sẽ không thể có được nếu không có sự quản lý và kiểm soát xã hội. Thiết chế xã hội thực hiện sự kiểm soát và quản lý để đảm bảo cho cái đáng có và ngăn chặn cái lệch lạc. Vì vậy, bất cứ thiết chế xã hội nào cũng có 2 chức năng cơ bản:

  • Chức năng quản lý: nhằm khuyến khích, điều chỉnh, điều hòa hành vi của con người cho phù hợp với quy phạm và chuẩn mực của thiết chế.
  • Chức năng kiểm soát: nhằm ngăn chặn, giám sát, thậm chí trừng phạt những hành vi sai lệch so với các chuẩn mực, đòi hỏi của thiết chế hoặc không chịu tuân thủ thiết chế.

Như vậy, thiết chế là công cụ để định hướng, điều chỉnh, điều hòa, quản lý và kiểm soát hành vi xã hội của con người. Nhờ có thiết chế, con người có thể có những hành động phù hợp căn cứ vào chuẩn mực, quy phạm. Đồng thời, nó cũng là công cụ trừng phạt đối với những sai lệch, vi phạm chuẩn mực. Nếu không tuân thủ thiết chế sẽ bị xử phạt theo hai hình thức:

  • Hình phạt/ kiểm soát chính thức: các hình phạt của thiết chế pháp luật như cải tạo không giam giữ, tù có thời hạn, từ chung thân và nếu hành vi vi phạm thật sự gây nguy hiểm cho xã hội thì sẽ bị tử hình (loại bỏ cá nhân đó khỏi xã hội).
  • Hình phạt/ kiểm soát phi chính thức: các hình phạt của thiết chế đạo đức và dư luận xã hội.

Có thể nói, các thiết chế đảm bảo cho cá nhân có những ứng xử xã hội được chấp nhận trong nhiều trạng thái xã hội khác nhau. Sự thừa nhận hay không thừa nhận của xã hội đối với khuôn mẫu ứng xử được phản ánh đến từng cá nhân thông qua hoạt động của thiết chế. Vì vậy, thiết chế mang lại cảm giác yên tâm và an toàn cho các cá nhân tuân thủ nó, vì nó chính là cái mà xã hội cho là đúng, là chuẩn. Thực hiện theo nó, tức là thực hiện theo số đông. Chỉ những người không thực hiện theo thiết chế xã hội mới cảm thấy bất an vì bị xã hội lên án.

Đặc trưng của thiết chế xã hội

Tính khách quan: thiết chế xã hội xuất hiện do đòi hỏi, nhu cầu của xã hội. Thiết chế xã hội có tính độc lập tương đối đối với nền kinh tế – xã hội.

Tính giai cấp: thiết chế xã hội chỉ xuất hiện trong xã hội có phân chia giai cấp. Luật pháp, chính sách của nhà nước xuất phát từ ý chí của giai cấp thống trị.

Tính phổ biến: ở đâu có sự tồn tại của con người thì ở đó có sự xuất hiện của thiết chế xã hội.

Tính độc lập tương đối: mỗi thiết chế xã hội đều có tính độc lập tương đối, nhưng giữa các thiết chế đều có sự tác động qua lại lẫn nhau. Sự biến đổi của thiết chế này sẽ kéo theo thiết chế khác biến đổi

Tính ổn định tương đối: thiết chế xã hội có biến đổi theo sự biến đổi của xã hội nhưng nội dung của nó thường biến đổi chậm chạp, trì trệ hơn, đôi khi không theo kịp sự biến đổi của đời sống xã hội.