Lý luận về sự phát triển tâm lý trẻ em

Lý luận về sự phát triển tâm lý trẻ em

Các nhà Tâm lý học chuyên nghiên cứu về trẻ em đều mong muốn tìm hiểu bản chất, cơ chế, nguồn gốc, động lực của sự phát triển tâm lý trẻ em. Xuất phát điểm từ những quan điểm triết học, tâm lý học khác nhau về trẻ em, và nguồn gốc, động lực của sự phát triển tâm lý trẻ em mà hình thành nên những quan điểm khác nhau về sự phát triển tâm lý trẻ em. Dưới đây là một số học thuyết khá phổ biến.

1. Những quan niệm sai lầm về sự phát triển tâm lý trẻ em

a. Thuyết tiền định lí

Đại diện tiêu biểu cho Thuyết tiền định là những nhà di truyền học, những người có quan niệm rằng sự phát triển trẻ em có nguồn gốc sinh vật (S. Auerbac, E. Thơndike,…).

Những người theo quan điểm của thuyết này cho rằng di truyền (những đặc điểm bẩm sinh hoặc gen) là yếu tố đóng vai trò quyết định đối với sự phát triển tâm lý trẻ em, còn môi trường chỉ là “yếu tố điều chỉnh ”, “yếu tố thể hiện ” một nhân tố bất biến nào đó của tính di truyền mà thôi. Nghĩa là, động lực của sự phát triển tâm lý là do các tiềm năng sinh vật bám sinh gây ra (ngày nay sinh học phát triển, người ta cho rằng tiềm năng sinh vật đó là sự mã hóa, chương trình hóa được trang bị trong gen), còn cơ chế của sự phát triển là quá trình trưởng thành, chín muồi của những thuộc tính bẩm sinh đó. Phát triển chẳng qua là sự bộc lộ dần dần những tiềm năng bẩm sinh sẵn có. Bản chất của sự phát triển chính là sự gia tăng về lượng của các hiện tượng tâm lý được bộc lộ đó. Tất cả là do di truyền quyết định. Tính tích cực cá nhân, giáo dục, giáo dưỡng… chỉ làm tăng lên hoặc giảm đi những yếu tố đã được tiền định từ trước đó mà thôi. Thuyết tiền định là chỗ dựa cho chủ nghĩa phân biệt chủng tộc với sự lý giải phản khoa học rằng “dân tộc thượng đẳng” ưu việt hơn “dân tộc hạ đẳng”, và điều đó do gen di truyền quyết định.

Các nhà khoa học theo Thuyết tiền định thường dẫn ra những người nổi tiếng để minh chứng cho học thuyết của mình, rằng di truyền quyết định tất cả. Chẳng hạn, Đalămbe (Jean le Rond d’Alembert, 1717 – 1783, nhà Toán học, Vật lý học nổi tiếng người Pháp) là con hoang của nữ văn sĩ nổi tiếng, cháu ngoại của Hồng y giáo chủ được hưởng sự thông minh do ông ngoại và bà mẹ di truyền lại. Thế nhưng, lại có những dẫn chứng khác: Pharađây (M. Faraday, 1791 – 1867, nhà vật lý học Anh) là con của người thợ rèn, nhạc sĩ Sôpanh (F. Chopin, 1810-1849) là con người kế toán, vv… Vì thế coi di truyền bẩm sinh quyết định sự phát triển tâm lý là không chính xác vì nó không bao quát được hết các trường hợp.

Ngày nay, Thuyết tiền định đã có những thay đổi mềm mỏng hơn để mọi người dễ chấp nhận, chẳng hạn, nhà di truyền học S. Auerbac cho rằng sự phát triển của con người được quyết định bởi gen, tuy nhiên có lúc gen có sự phân bố xấu đến mức thậm chí khó chờ đợi một kết quả vừa phải, càng hiếm có sự phân bố ưu việt đến mức khó có thể đạt được kết quả cao mà không đòi hỏi sự cố gắng nào. Nhà Tâm lý học Mỹ E. Thơndike cho rằng, tự nhiên ban cho mỗi người một vốn nhất định, giáo dục cần phải làm bộc lộ vốn đó là vốn gì và phải sử dụng nó bằng phương tiện tốt nhất. Cũng theo ông thì vốn đó đặt ra giới hạn cho sự phát triển, cho nên một bộ phận học sinh tỏ ra không đạt được kết quả nào đó “dù giảng dạy tốt” số khác lại tỏ ra lại có thành tích cao “dù giảng dạy tồi”.

Tâm lý học hiện đại đã khẳng định không một tư chất nào mang sẵn những năng lực và những nét nhân cách nhất định. Các yếu tố bẩm sinh, di truyền là tiền đề quan trọng cho sự phát triển tâm lý, nó quy định chiều hướng của sự phát triển tâm lý nhưng không quyết định trình tự cũng như mức phát triển trí tuệ và nhân cách của trẻ em.

Như vậy, một mặt Thuyết tiền định có những đóng góp nhất định cho khoa học tâm lý, giúp chúng ta thấy được những ảnh hưởng của di truyền đối với sự phát triển tâm lý. Mặt khác, Thuyết tiền định còn rất nhiều hạn chế. Những người theo học thuyết này đã hạ thấp vai trò của giáo dục và phủ nhận tính tích cực hoạt động của cá nhân. Họ cho rằng trẻ tốt hay xấu, học giỏi hay kém không phải do giáo dục mà do gen tốt hay xấu. Vì thế, mọi sự can thiệp vào quá trình phát triển tự nhiên của trẻ đều không cần thiết. Đề cao quá mức vai trò của di truyền khiến họ cổ súy cho giáo dục tự phát, giáo dục tự do.

b. Thuyết duy cảm

Thuyết duy cảm được khởi xướng bởi các nhà triết học duy cảm người Anh ở thế kỷ XVII – XVIII như Thơngs Hobbes (1586 – 1679) và John Lock (1632 – 1704), … Họ quan niệm rằng sự phát triển tâm lý con người có nguồn gốc là môi trường sống.

Những người theo Thuyết duy cảm quan niệm rằng môi trường là nhân tố quyết định sự phát triển tâm lý của trẻ em. Chẳng hạn, John Lock đưa ra nguyên lý “tấm bảng sạch” (tabula rasa) cho rằng trẻ em khi mới sinh ra, giống như một tờ giấy trắng, rồi dưới ảnh hưởng của môi trường sống mà người lớn muốn vẽ trên đó cái gì thì sẽ nên cái đó. Ông cho rằng mọi tri thức của con người không phải là bẩm sinh mà là kết quả của nhận thức. Quan điểm của ông về trẻ em và nguyên lý “tấm bảng sạch” là cơ sở triết học của các xu hướng quá đề cao vai trò của môi trường xã hội đối với sự phát triển tâm lý trẻ em. Nghĩa là, theo họ, động lực của sự phát triển tâm lý chính là những tác động của môi trường. Cơ chế của sự phát triển tâm lý chính là sự ‘‘sao chụp” lại môi trường sống. Môi trường xung quanh như thế nào thì hành vi, nhân cách của con người sẽ như thế ấy. Bởi thế, muốn nghiên cứu trẻ em chỉ cần phân tích môi trường xã hội xung quanh là có thể hiểu được nó. Nhưng họ lại hiểu môi trường xã hội một cách bất biến, quyết định số phận con người.

So với Thuyết tiền định, Thuyết duy cảm dường như đối lập với Thuyết tiền định, về hình thức, quan điểm của hai học thuyết này không giống nhau, nhưng thực chất cả hai đều xem trẻ em như là một thực thể thụ động trước tác động của di truyền hay môi trường. Nếu Thuyết tiền định bảo vệ sự tồn tại của giai cấp và chủng tộc thống trị trong xã hội bằng tính di truyền thi Thuyết duy cảm bảo vệ họ bằng những điều kiện đặc biệt của môi trường. Vì lẽ đó, khi phân tích nguyên nhân trẻ em phạm pháp thì những người theo Thuyết tiền định cho rằng mầm mống phạm tội đã có sẵn trong di truyền, còn những người theo Thuyết duy cảm lại cho rằng trẻ em phạm tội vì nó sống trong môi trường tội lỗi.

Như vậy, Thuyết duy cảm có ưu điểm là nhìn thấy được sự ảnh hưởng của môi trường đối với sự phát triển tâm lý trẻ em, nhưng lại quá đề cao vai trò của giáo dục mà hạ thấp sự ảnh hưởng của di truyền, đồng thời phủ nhận tính tích cực của chủ thể, vì thế không thể giải thích được vì sao trong một môi trường sống như nhau lại có những nhân cách khác nhau.

c. Thuyết hội tụ hai yếu tố

Nhằm khắc phục sự phiến diện và sai lầm của hai học thuyết trên, V. Stecnơ (nhà Tâm lý học người Đức) đã xây dựng Thuyết hội tụ hai yếu tố.

Theo thuyết này thì sự tác động qua lại giữa môi trường và di truyền quyết định sự phát triển tâm lý trẻ em. Trong hai yếu tố trên, di truyền giữ vai trò quyết định còn môi trường là điều kiện để biến những yếu tố có sẵn của di truyền trở thành hiện thực. Nghĩa là, theo họ, động lực của sự phát triển tâm lý trẻ em là sự tác động qua lại giữa di truyền và môi trường. Cơ chế của sự phát triển là sự trưởng thành, chín muồi của những tiềm năng sinh vật bẩm sinh có sẵn, trong đó nhịp độ và giới hạn của sự phát triển là tiền định.

Như vậy, lắp ghép hai quan niệm sai lầm thành một học thuyết mới, về thực chất không có gì hơn thuyết sai lầm đứng riêng lẻ. Những người theo thuyết này có đề cập đến vai trò của môi trường đối với tốc độ chín muồi của năng lực và nét tính cách được truyền lại cho trẻ em. Nhưng theo họ, “môi trường” không phải là toàn bộ những điều kiện và hoàn cảnh trẻ em đang sống mà chỉ là gia đình của trẻ… Môi trường này mang tính riêng biệt và gần như tách rời với đời sống xã hội. “Môi trường xung quanh” này thường xuyên ổn định và ảnh hưởng một cách định mệnh đến sự phát triển tâm lý của trẻ, mà không phụ thuộc vào hoạt động sư phạm của nhà giáo dục và tính tích cực của trẻ.

Quan niệm như trên là không hợp lý, bởi trên thực tế có nhiều trẻ em sinh đôi cùng trứng, cùng sống trong một môi trường gia đình như nhau nhưng tâm lý lại phát triển khác nhau. Chính vì vậy mà học thuyết này cũng không được thừa nhận rộng rãi, cho dù ưu điểm của học thuyết là có đề cập đến sự ảnh hưởng của di truyền và môi trường sống nhưng còn mang tính máy móc và chưa cụ thể, do đó cũng chưa thấy hết được vai trò của giáo dục và dạy học đối với sự phát triển tâm lý trẻ em. Hơn nữa, học thuyết phủ nhận tính tích cực của trẻ em, vì vậy không thể giải thích được nhiều trường hợp trong thực tiễn.

2. Quan niệm duy vật biện chứng về sự phát triển tâm lý trẻ em

Đây là quan điểm của các nhà Tâm lý học thuộc trường phái Tâm lý học hoạt động với các đại diện tiêu biểu: L. X. Vưgốtxki, A. N. Leônchiev, D. B. Encônhin,…

Khi xem xét các vấn đề về sự phát triển tâm lý trẻ em các nhà Tâm lý học hoạt động chủ yếu dựa trên nguyên lý phát triển của triết học Mác – Lê nin.

Nguyên lý phát triển trong triết học Mác – Lê nin thừa nhận sự phát triển là quá trình biến đổi của sự vật hiện tượng từ thấp lên cao, từ đơn giản đến phức tạp. Đó là quá trình tích lũy dần về lượng dẫn đến sự nhảy vọt về chất, là quá trình nảy sinh cái mới trên cơ sở cái cũ do sự đấu tranh giữa các mặt đối lập nằm ngay trong bản thân sự vật, hiện tượng.

Khi nói đến khái niệm phát triển người ta hay đề cập đến những khái niệm có liên quan như lượng và chất, tăng trưởng, chín muồi và phát triển, cần phân biệt rõ những khái niệm này.

Thay đổi về lượng là thay đổi về mặt hình thức các thuộc tính của sự vật hiện tượng (số lượng bao nhiêu, mức độ nhiều hay ít, khối lượng, kích thước, tốc độ,…).

Thay đổi về chất là thay đổi về mặt nội dung, thay đổi những thuộc tính bản chất của sự vật hiện tượng.

Tăng trưởng là sự biến đổi dần dần và tăng thêm về số lượng hoặc mức độ của một cấu trúc đã có.

Chín muồi là để chỉ sự tăng trưởng đạt đến “độ” (mức độ đỉnh). Tại thời điểm đó sẽ xảy ra sự biến đổi về chất.

Phát triển là sự biến đổi về bản chất của cái được phản ánh và phương thức phản ánh của cấu trúc đã có đó, nghĩa là có sự cấu tạo lại, điều chỉnh lại cấu trúc đó và kết quả là tạo ra cái mới cả về phương diện hình thức lẫn nội dung.

Quan hệ giữa tăng trưởng, chín muồi với phát triển là quan hệ về mặt số lượng và chất lượng. Tăng trưởng, chín muồi dẫn đến sự biến đổi nhảy vọt về chất (phát triển).

Vận dụng quan điểm Mác xít này để xem xét sự phát triển tâm lý trẻ em. Như vậy, sự phát triển tâm lý trẻ em cũng là quá trình biến đổi tâm lý của trẻ em từ thấp lên cao, từ đơn giản đến phức tạp, cũng là quá trình tích lũy dần về lượng, dẫn đến sự nhảy vọt về chất, là quá trình nảy sinh những nét tâm lý mới trên nền những nét tăm lý cũ do sự đấu tranh giữa các mặt đối lập nằm ngay trong chính bản thân đứa trẻ.

Quan điểm của các nhà tâm lý học Mác xít về sự phát triển tâm lý trẻ em có một số điểm đáng chú ý sau:

Bản chất của sự phát triển tâm lý chính là quá trình tích lũy dần về lượng dẫn đến sự biến đổi về chất trong các hoạt động tâm lý và nhân cách của trẻ. Sự phát triển tâm lý trẻ em được thể hiện ở hai mặt số lượng và chất lượng. Sự thay đổi về lượng của các chức năng tâm lý đạt đến độ “chín muồi” sẽ dẫn đến sự biến đổi nhảy vọt về chất và đưa đến cấu tạo tâm lý mới được hình thành.

Ví dụ: tư duy con người đi từ tư duy trực quan hành động đến tư duy trực quan hình tượng rồi đến tư duy trừu tượng. Mỗi một loại tư duy sau đó có sự thay đổi về chất so với loại tư duy trước đó.

Sự phát triển tâm lý tuân theo quy luật phủ định của phủ định, gắn liền với sự xuất hiện những cấu tạo tâm lý mới ở những giai đoạn lứa tuổi khác nhau. Sự phát triển tâm lý diễn ra theo chiều hướng đi lên, trong đó sẽ có những nét tâm lý mới được hình thành, những nét tâm lý cũ mất đi, nhưng không phải là mất đi hẳn mà là sự cấu tạo lại, cải tổ lại cấu trúc tâm lý cũ đó, kế thừa những yếu tố tích cực của cấu trúc cũ, gạt bỏ những yếu tố không phù hợp và cải tạo lại chúng cho phù hợp với sự phát triển của cấu trúc tâm lý mới, kết quả là những cấu tạo tâm lý mới được hình thành trên cơ sở cấu trúc tâm lý cũ ở một giai đoạn lứa tuổi nhất định, cấu tạo tâm lý mới ấy, sau khi xuất hiện lại tiếp tục phát triển và đến một lúc nào đó sẽ bị phủ định bởi cấu tạo tâm lý mới xuất hiện từ trong lòng nó và quá trình đó cứ thế tiếp tục mãi. Sự phát triển như vậy luôn diễn ra liên tục, theo chiều hướng đi lên, nhưng không theo đường thẳng mà theo hình xoáy trôn ốc. Vì thế, sự phát triển tâm lý còn tuân theo quy luật kế thừa.

Ví dụ: tự ý thức về bản thân được hình thành từ tuổi mẫu giáo và phát triển qua các giai đoạn lứa tuổi khác nhau. Sự tự ý thức của thiếu niên khác với sự tự ý thức của tuổi nhi đồng, tuổi mẫu giáo về chất.

Như vậy, trong mỗi giai đoạn lứa tuổi sẽ có sự cải tổ về chất của các quá trình tâm lý và toàn bộ nhân cách của trẻ. Sự xuất hiện những nét cấu tạo tâm lý mới đã làm cho mỗi giai đoạn lứa tuổi tâm lý con người sẽ mang những nét đặc trưng riêng.

Ví dụ: các em học sinh THPT có những nét tâm lý đặc trưng riêng khác với các giai đoạn lứa tuổi khác như là sự hình thành thế giới quan khoa học và xu hướng nghề nghiệp. Dù muốn hay không muốn thì trước cánh cổng vào đời, các em cũng phải suy nghĩ để lựa chọn cho mình một hướng đi, điều đó khiến các em đặc biệt quan tâm đến các loại hình nghề nghiệp và lựa chọn cho mình một nghề nghiệp, một hướng đi trong tương lai.

Sự phát triển tâm lý diễn ra không phẳng lặng mà có khủng hoảng và đột biến. Sự phát triển tâm lý có những giai đoạn phát triển cân bằng ổn định tạm thời xen kẽ với những thời kỳ “khủng hoảng” và đột biến với những đổi thay sâu sắc.

Ví dụ: khủng hoảng tuổi lên 3, khủng hoảng tuổi dậy thì.

Sự phát triển tâm lý có tính liên tục, kéo dài suốt cả cuộc đời và tuân theo một quy luật tuần tự với những giai đoạn nối tiếp nhau theo một trật tự cố định.

Cụ thể là các giai đoạn: Bắt đầu từ bào thai – sơ sinh – hài nhi – nhi đồng – thiếu niên – thanh niên – người trưởng thành – già lão. Sự phát triển tuân theo trình tự của các giai đoạn đó, không có sự đốt cháy giai đoạn, hoặc nhảy cóc qua các giai đoạn. Nếu con người chết đi ở giai đoạn nào thì đời người dừng lại ở giai đoạn đó.

Sự phát triển tâm lý trẻ em là một quá trình trẻ em tích cực hoạt động để-lĩnh hội nền văn hóa xã hội loài người. L.x. Vưgốtxki đã đi sâu nghiên cứu về vai trò của việc sử dụng các công cụ lao động ở người và nêu ra tư tưởng: việc sử dụng các công cụ lao động dẫn đến sự biến đổi hành vi con người, khiến con người khác với động vật. Sự khác biệt này thể hiện rõ nhất ở tính gián tiếp của hoạt động. Trong hoạt động, con người biết sử dụng công cụ lao động và các kí hiệu (từ ngữ, chữ số…). Công cụ hướng ra bên ngoài, tác động vào đối tượng nhằm biến đổi nó phục vụ cho những nhu cầu của con người, còn kí hiệu hướng vào bên trong, tác động đến hành vi con người, có vai trò điều khiển, điều chỉnh hành vi và hoạt động của con người. Sự phát triển diễn ra trong chính quá trình con người nắm vững các loại công cụ và các loại kí hiệu đó. Trải qua các giai đoạn phát triển, con người sử dụng các loại ký hiệu để ghi lại những kinh nghiệm về các loại công cụ và cách thức sử dụng chúng. Đó là kho tàng kinh nghiệm mang tính xã hội lịch sử của loài người. Để phát triển, đứa trẻ phải tích cực lĩnh hội được những kinh nghiệm đó thông qua hoạt động và giao tiếp. Nhưng đứa trẻ không tự lớn lên giữa môi trường mà thông qua vai trò trung gian của người lớn. Người lớn truyền thụ những kinh nghiệm đó bằng con đường đặc trưng là giáo dục (theo nghĩa rộng). Chính vì vậy, L. X. Vưgôtxki coi giáo dục chiếm vị tri trung tâm hàng đầu trong toàn bộ hệ thống tổ chức cuộc sống của trẻ em.

Quan điểm trên của L.x. Vưgốtxki đã được hàng loạt các nhà Tâm lý học Liên Xô nổi tiếng như: X.L. Rubinstêin, B.G. Angnhev, A.R. Luria, A.N. Leônchiev, P.J. Galpêrin, I.v. Zankôv, D.B. Elcônhin, B.B. Đavưđốp thừa nhận, triển khai nghiên cứu trên thực tiễn và chứng minh tính đúng đắn của nó. Không những thế, quan điểm hoạt động tích cực của chủ thể để lĩnh hội kinh nghiệm xã hội lịch sử là động lực của sự phát triển tâm lý trẻ Cĩậ còn được nhiều nhà tâm lý học châu Âu, Mỹ thừa nhận (A.I. Walon, J. Piaget, p. Jangt, B.F. Skingr, J.B. Watson…).

Quan điểm của L.x. Vưgốtxki đã làm sáng tỏ nguồn gốc của sự phát triển tâm lý là môi trường văn hóa xã hội, cụ thể là những kinh nghiệm lịch sử xã hội. Cơ chế của sự phát triển tâm lý là quá trình con người tiếp thu và lĩnh hội kinh nghiệm xã hội lịch sử đó.

Theo L.x. Vưgốtxki, động lực của sự phát triển tâm lý chính là hoạt động tích cực của cá nhân để giải quyết các mâu thuẫn. Nói một cách cụ thể hơn, chính những mâu thuẫn xuất hiện bên trong bản thân đứa trẻ trong quá trình sống và hoạt động có tác dụng thúc đẩy đứa trẻ tích cực hoạt động để giải quyết những mâu thuẫn đó và kết quả là dẫn đến sự phát triển tâm lý. “Nội dung thực sự của sự phát triển tâm lý chính là sự đấu tranh giữa các mặt đối lập nằm ngay trong bản thân đứa trẻ, đó chính là cuộc đấu tranh giữa các mâu thuẫn bên trong, mâu thuẫn giữa những cái cũ (nội dung và hình thức của các hoạt động tâm lý) đã lỗi thời và những cái mới được sản sinh trong quá trình sống và hoạt động của trẻ (L.x. Vưgốtxki, A.N. Leônchiev, X.L. Rubinstêin)” .

Ví dụ: theo Liubinxkaia có 4 nhóm mâu thuẫn ở trẻ mẫu giáo:

Thứ nhất, mâu thuẫn giữa nhu cầu mới với khả năng cũ chưa thể đáp ứng nhu cầu đó. Đơn cử như: trẻ mẫu giáo bắt đầu đi học, chúng muốn giao thiệp rộng rãi hơn, chúng muốn mọi người hiểu được chúng, nhưng ngôn ngữ còn nghèo nàn, vốn từ quá ít ỏi dẫn đến trẻ phải tích cực hoạt động để có thể lĩnh hội ngôn ngữ được nhiều hơn, kết quả là cuối tuổi mẫu giáo hầu hết các trẻ đều biết sử dụng tiếng mẹ đẻ một cách thành thạo trong sinh hoạt hàng ngày.

Thứ hai, mâu thuẫn giữa khả năng mới với hình thức cũ của hoạt động đang cản trở sự phát triển khả năng đó. Chẳng hạn, trẻ ba tuổi có thể tự mặc quần áo, tự ăn cơm, nhưng người lớn không cho dẫn đến khủng hoảng tuổi lên ba, đòi “con tự” làm.

Thứ ba, mâu thuẫn giữa hình thức cũ và hình thức mới của những mâu thuẫn: muốn vẽ nhưng chưa biết vẽ, biết vẽ nhưng vẽ không đẹp, vẽ không đẹp nên muốn vẽ đẹp hơn, vẽ đẹp rồi lại muốn vẽ gì đó mới hơn, lạ hơn,… Những mâu thuẫn nảy sinh không ngừng đó thôi thúc trẻ tích cực lĩnh hội những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo mới, từ đó dẫn đến sự sáng tạo của trẻ trong hoạt động.

Thứ tư, mâu thuẫn giữa khả năng cũ với hình thức mới của hoàn cảnh (khả năng hiện có chưa đáp ứng được với những đòi hỏi mới của hoàn cảnh): khi trẻ bắt đầu đi mẫu giáo, giáo viên đòi hỏi trẻ phải tuân theo những yêu cầu của trường mầm non, nhưng trẻ chưa quen, chưa có khả năng thực hiện điều đó nên trẻ phải tích cực hoạt động để đáp ứng yêu cầu của giáo viên.

Tóm lại, có rất nhiều loại mâu thuẫn, chúng khác nhau trong từng thời điểm và từng giai đoạn lứa tuổi, nhưng mâu thuẫn chủ yếu nhất vẫn là mâu thuẫn giữa một bên là cái “tôi muốn” (nhu cầu) và một bên là cái “tôi có thể” (khả năng). Một mặt, trẻ có nhu cầu được hòa nhập vào đời sống của người lớn, được giống như người lớn, muốn có một vị trí xã hội nhất định trong đời sống, mong muốn thể hiện sự độc lập nhưng mặt khác, trẻ lại thiếu đi những khả năng hiện thực để đáp ứng nhu cầu đó. Trong nhận thức của trẻ nó xuất hiện như một sự không tương thích giữa nhu cầu và khả năng hiện có. Để giải quyết mâu thuẫn, trẻ phải tích cực hoạt động để lĩnh hội những kiến thức mới, hình thành kỹ năng, kỹ xảo mới…, nhằm mở rộng quyền tự lập và nâng cao khả năng, dẫn tới sự khai phá những điều mới mẻ trong xã hội người lớn, cái xã hội mà hiện giờ chúng chưa đủ trình độ để hiểu nhưng là cái xã hội mà chúng muốn được bước vào.

Sự phát triển tâm lý chịu tác động của nhiều yếu tố: bẩm sinh, di truyền, môi trường sống và hoạt động, dạy học – giáo dục và hoạt động cá nhân. Trong đó yếu tố bẩm sinh, di truyền đóng vai trò là tiền đề của sự phát triển tâm lý, môi trường xã hội và hoạt động là điều kiện, dạy học – giáo dục đóng vai trò chủ đạo, còn hoạt động tích cực của cá nhân đóng vai trò quyết định sự phát triển tâm lý.

3. Những quy luật chung về sự phát triển tâm lý trẻ em

a. Tính không đồng đều của sự phát triển tâm lý

Đây là quy luật chung của sự phát triển tâm lý. Quy luật này được thể hiện ở chỗ những biểu hiện tâm lý, những chức năng tâm lý ở trẻ em không thể phát triển ở mức độ như nhau dù trong điều kiện giống nhau. Tính không đồng đều của sự phát triển tâm lý được xem xét kỹ hơn ở hai khía cạnh sau:

Xét trong tiến trình phát triển tâm lý cá nhân:

Sự phát triển tâm lý cá nhân diễn ra không đồng đều qua các giai đoạn lứa tuổi, mà có những giai đoạn hội tụ những điều kiện tối ưu cho sự phát triển một hiện tượng tâm lý nào đó vượt trội hơn hẳn so với các hiện tượng tâm lý khác. Giai đoạn thuận lợi đó gọi là giai đoạn phát cảm.

Ví dụ: 1-5 tuổi: giai đoạn phát cảm ngôn ngữ, 6-11 tuổi giai đoạn phát cảm kỹ xảo vận động, 15-20 tuổi: giai đoạn phát cảm tư duy logic.

Tốc độ, nhịp độ phát triển tâm lý của một cá nhân (trí tuệ, tình cảm. đạo đức,…) qua các giai đoạn lứa tuổi cũng diễn ra không đồng đều. Có những giai đoạn phát triển nhanh, mạnh, có giai đoạn phát triển êm ả, chậm hơn. Chẳng hạn, giai đoạn dậy thì trẻ phát triển rất nhanh, rất mạnh.

Các cấu trúc tâm lý của cá nhân cũng phát triển không đều về thời điểm hình thành, tốc độ và mức độ phát triển. Chẳng hạn, trẻ phát triển nhận thức trước phát triển ngôn ngữ, phát triển ý thức về các sự vật bên ngoài trước khi phát triển ý thức về bản thân.

Xét trong quan hệ giữa cá nhân này với cá nhân khác.

Trong cùng một lứa tuổi, tốc độ và mức độ phát triển tâm lý của các cá nhân (nhận thức, tình cảm, sở thích, tính cách,…) cũng không đều nhau. Có những trẻ phát triển sớm hơn hoặc muộn hơn các trẻ khác. Nguyên nhân là do di truyền, điều kiện sống và hoạt động khác nhau, tính tích cực hoạt động cũng khác nhau giữa các trẻ. Điều này đặt ra vấn đề giáo dục trẻ em không chỉ tôn trọng sự khác biệt cá nhân mà còn phải tạo điều kiện thuận lợi để các em có thể phát huy đến mức tối đa mọi tiềm năng của mình.

b. Tính toàn vẹn của sự phát triển tâm lý

Con người càng phát triển thì tâm lý con người ngày càng trở nên trọn vẹn, thống nhất và bền vững hơn. Tâm lý trẻ nhỏ phần lớn là một tổ hợp các quá trình tâm lý và phẩm chất tâm lý thiếu hệ thống và rời rạc nhau. Càng phát triển, tâm lý trẻ ngày càng trở nên trọn vẹn hơn, nghĩa là các thành tố trong cấu trúc của nhận thức và nhân cách ngày một nhiều hơn, đầy đủ và sâu sắc hơn. Chúng cũng thống nhất với nhau hơn, đồng nghĩa với việc chúng liên kết và phối hợp với nhau chặt chẽ thành một kết cấu tổng thể, có hệ thống và hoàn chỉnh hơn. Như vậy giữa nhận thức, tình cảm và hành động có sự nhất quán nhiều hơn và hành vi con người cũng trở nên có ý thức hơn. Hơn nữa, cùng với sự lớn lên, các quá trình tâm lý cũng dần biến đổi trở thành những thuộc tính tâm lý ổn định và bền vững trong nhân cách cá nhân. Việc nhận thức ngày càng đầy đủ và sâu sắc, tình cảm phong phú, đa dạng và mãnh liệt sẽ khiến cho hành động, ý chí càng kiên cường hơn, nghĩa là nhân cách con người cũng trở nên rõ nét hơn.

Ví dụ: khi nhỏ, nhận thức ở trẻ còn non nớt, thơ ngây, xúc cảm, tình cảm bồng bột, hành vi bốc đồng thiếu ý thức (chẳng hạn, trẻ thấy đồ chơi, trẻ đòi lấy ngay, nếu không cho trẻ sẽ khóc,…). Trẻ chưa hiểu và cũng không hiểu nhiều điều. Nhưng càng lớn, trẻ càng nhận thức đầy đủ hơn, tình cảm sâu sắc hơn, hành động có ý thức và ổn định hơn, đồng thời các mặt nhận thức, thái độ, hành vi cũng liên kết với nhau trong một cấu trúc nhân cách chặt chẽ, có hệ thống hơn.

Tính trọn vẹn của tâm lý phụ thuộc khá nhiều vào động cơ chỉ đạo hành vi của trẻ. Càng lớn động cơ của trẻ càng trở nên tự giác, có ý nghĩa xã hội và bộc lộ rõ trong nhân cách của trẻ. Ví dụ: trò ấu nhi thường hành động vì muốn thỏa mãn một điều gì đó, và động cơ đó thay đổi hàng ngày, hàng giờ. Trong khi đó, thanh thiếu niên thường hành động do động cơ cá nhân hoặc động cơ xã hội thúc đẩy và những động cơ đó cũng ổn định hơn.

c. Tính mềm dẻo và khả năng bù trừ trong sự phát triển tâm lý

Tính mềm dẻo của sự phát triển tâm lý trẻ em được thể hiện ở chỗ trẻ em có thể thay đổi, có khả năng lĩnh hội kiến thức, kĩ năng… để phát triển bản thân, nhờ vậy tâm lý con người không ngừng phát triển và khác hẳn về chất so với động vật. Chính tính mềm dẻo của hệ thần kinh tạo điều kiện cho người lớn có những tác động giáo dục phù hợp làm thay đổi tâm lý trẻ em.

Tính mềm dẻo tạo ra khả năng bù trừ, nghĩa là các chức năng tâm lý và sinh lý có khả năng bù đắp cho nhau. Trong tiến trình phát triển cá nhân, khả năng bù trừ được thể hiện khi một chức năng tâm lý hoặc sinh lý nào đó yếu hoặc thiếu thì các chức năng tâm lý và sinh lý khác sẽ được tăng cường hoặc phát triển mạnh hơn để bù đắp cho sự thiếu hụt đó. Điều này thể hiện rất rõ đối với sự phát triển tâm lý của trẻ em bình thường và càng thể hiện rõ hơn nữa với trẻ em khuyết tật. Ví dụ: trẻ khiếm thị thì sẽ được bù đắp bởi sự phát triển mạnh mẽ của thính giác.

Trên đây là một số quy luật cơ bản trong sự phát triển tâm lý trẻ em. Những quy luật đó biểu hiện với mức độ cao hay thấp, mờ nhạt hay rõ rệt còn phụ thuộc rất nhiều vào nhũng điều kiện khác của sự phát triển tâm lý như điều kiện sinh lý, điều kiện xã hội.

4. Dạy học, giáo dục và sự phát triển tâm lý

L.x. Vưgốtxki nhấn mạnh về mối quan hệ tương hỗ giữa dạy học và phát triển, ông khẳng định vị trí trung tâm của dạy học và giáo dục đối với sự phát triển tâm lý, nhưng cũng thừa nhận không phải tất cả mọi cái đã học (hoặc được dạy) đều giúp ích cho sự phát triển.

L.x. Vưgôtxki cho rằng dạy học phải đi trước sự phát triển và lôi cuốn sự phát triển, hướng sự phát triển của trẻ vào vùng phát triển tương lai (vùng phát triển gần nhất). Ông cho rằng có hai mức độ của sự phát triển.

+ Mức 1: Vùng phát triển hiện tại. Ở mức độ này, học sinh hiện đang có một số tri thức, kỹ năng, kỹ xảo,… và có thể tự giải quyết được vấn đề mà không cần sự hỗ trợ của người lớn.

+ Mức 2: Vùng phát triển gần nhất. Ở mức độ này, học sinh cần có sự giúp đỡ của người lớn thì mới giải quyết được vấn đề. Ở “vùng phát triển gần nhất” học sinh dưới sự tổ chức, điêu khiển của người thầy có thể tiếp thu được những tri thức mới gần gũi với tri thức cũ để đạt tới một trình độ phát triển cao hơn. Khi học sinh đạt được trình độ ở “vùng phát triển gần nhất” thì cũng có nghĩa là vùng phát triển gần nhất đó đã biến thành “vùng phát triển hiện tại” của vùng phát triển tương lai kế tiếp.

Tâm lý học hiện đại này hôm nay đã khẳng định tính ưu việt của việc dạy học đi trước sự phát triển, hướng sự phát triển vào tương lai. Với cách thức dạy học này càng thấy rõ hơn vai trò chủ đạo của dạy học, và giáo dục đối với sự phát triển tâm lý. Vai trò chủ đạo của dạy học và giáo dục còn được minh chứng bởi những lí do sau:

Trẻ em chỉ có thể lĩnh hội được kinh nghiệm xã hội thông qua hoạt động và giao tiếp với người lớn tức qua cơ chế dạy học và giáo dục. Người lớn đóng vai trò trung gian giữa trẻ em và thế giới đồ vật. Ngay từ khi mới ra đời, trẻ đã được người lớn chăm sóc về mặt thể chất, được dạy dỗ về mặt tinh thần để phát triển trí tuệ, năng lực,… thông qua nhiều hình thức khác nhau: dạy ăn, dạy nói, dạy theo phương thức nhà trường,…

Dạy học và giáo dục tác động có mục đích, có kế hoạch, có nội dung đối với sự phát triển tâm lý của trẻ. Dạy học và giáo dục sẽ định hướng cho trẻ phát triển theo một hướng nhất định đáp ứng yêu cầu của xã hội. Nhờ cơ chế dạy học và giáo dục đứa trẻ sẽ tiếp thu tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, … một cách nhanh nhất, ngắn nhất và có chọn lọc nhất.

Dạy học và giáo dục tổ chức các dạng hoạt động cho trẻ góp phần thúc đẩy nhanh hơn quá trình hình thành và phát triển tâm lý của trẻ.

Khi khẳng định vai trò chủ đạo của dạy học và giáo dục đối với sự phát triển tâm lý của trẻ chúng ta cần lưu ý, trẻ em là một thực thể tích cực trước tác động của môi trường, vì vậy sức ảnh hưởng của dạy học và giáo dục tuy mạnh mẽ, rộng lớn, nhưng không quyết định hoàn toàn được sự phát triển của trẻ. Muốn tâm lý trẻ phát triển đúng đắn rất cần có sự tự giáo dục của bản thân trẻ trong suốt các giai đoạn phát triển.

(Theo: Giáo trình tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học sư phạm)

Tags: ,